Đóng

Kiến thức về bệnh đau dạ dày

Kiến thức về bệnh đau dạ dày – Phần 2 : viêm dạ dày mãn tính

VIÊM DẠ DÀY MẠN TÍNH

1. KHÁI NIỆM VIÊM DẠ DÀY MẠN TÍNH

Viêm dạ dày mạn tính là một bệnh tiến triển với những biến đổi mô phủ và sự mất dần các tuyến của niêm mạc dạ dày. Sự biến đổi biểu mô có thể dẫn tới sự phát triển dị sản ruột và loạn sản. Viêm dạ dày mạn tính được hiểu là tình trạng viêm của lớp niêm mạc dạ dày. Quá trình viêm diễn ra từ từ và tồn tại trong một thời gian dài. Viêm dạ dày mạn tính có thể xảy ra ở hang vị, thân vị hoặc toàn bộ niêm mạc dạ dày. Viêm da mạn tính cũng có thể được hiểu là tình trạng viêm niêm mạc dạ dày tiến triển và tái phát ít nhất là từ 3-4 tháng trở lên. Triệu chứng cơ năng và thực thể viêm dạ dày mạn tính ít gây nên tình trạng nặng nề nhưng lại diễn biến dai dẳng hơn viêm dạ dày cấp tính.

  1. NGUYÊN NHÂN VIÊM DẠ DÀY MẠN TÍNH

Những yếu tố sau được coi là nguyên nhân gây viêm dạ dày mạn tính

  • Hậu quả của việc điểu trị không đúng hay không triệt để bệnh viêm dạ dày cấp tính.
  • Tuổi: viêm dạ dày mạn tính tăng dần theo lứa tuổi. Có những nghiên cứu thấy rằng tới 80% những người trên 50 tuổi bị viêm nhiễm mạn tính ở các mức độ khác nhau. Lứa tuổi trên 60 thường mắc các căn bệnh mạn tính, trong đó có viêm dạ dày mạn tính.
  • Các chất độc hại cho niêm mạc dạ dày: rượu, thuốc lá, một số thuốc như: aspirrin, corticoid, thuốc NSAID.
  • Các yếu tố nhiễm khuẩn: gây viêm dạ dày mạn tính hoặc duy trì viêm dạ dày mạn tính (đặc biệt chú ý các nhiễm khuẩn ở tai-mũi -họng, răng..)
  • Các rối loạn tâm lý, rối loạn thần kinh thực vật có thể gây nên viêm dạ dày và rối loạn tiêu hóa.
  • Chế độ ăn thiếu đạm, thiếu mỡ và các vitamin B12, vitamin C, vitamin PP.
  • Trào ngược dịch mật và dịch tá tràng: ứ đọng trong dạ dày lâu ngày dù do nguyên nhân nào cũng gây nên viêm teo và viêm trợt. Lambling và Gosset đã nêu trào ngược dịch tá tràng vào dạ dày sẽ gây viêm dạ dày mạn tính. Các muối mật tiếp xúc với niêm mạc dạ dày sẽ phá vỡ hàng rào niêm mạc và ion H+ sẽ khuyếch tán trở lại.
  • Yếu tố dị ứng, miễn dịch, di truyền: điển hình trong bệnh Biemer (tức là bệnh kém thu B12).
  • Vai trò của pylori: quan điểm hiện nay của hầu hết tác giả coi H.pylori là nguyên nhân hàng đầu trong viêm dạ dày mạn tính.
  • Ăn thức ăn có nhiều các chất hóa học dùng trong nông nghiệp và thực phẩm. Ăn nhiều gia vị chua, cay, nóng quá như hạt tiêu, ớt. Ăn uống thiếu điều độ, không đúng bữa, ăn vội vàng. Khi ăn không nhai kĩ thức ăn, ăn các loại thức ăn còn nóng quá…
  1. TRIỆU CHỨNG VIÊM DẠ DÀY MẠN TÍNH

Viêm dạ dày mạn tính không có triệu chứng lâm sàng đặc trưng, chi có giá trị gợi ý không có giá trị chuẩn đoán xác định. Người bệnh có thể có những dấu hiệu rối loạn chức năng sau đây:

  • Đau vùng thượng vị: Người bệnh có cảm giác đau âm ỉ, tăng lên sau ăn. Đôi khi chỉ là cảm giác khó chịu cả ngày.
  • Nóng rát vùng thượng vị: cảm giác nóng rát xuất hiện sau hoặc trong khi ăn, nhất là khi sau ăn các gia vị cay, chua, nóng quá. Nóng rát tăng lên sau khi ăn uống rượu bia, nước có gas. Nóng rát cũng có thể xuất hiện muộn hơn sau các bữa ăn. Các triệu chứng hay tái phát khi có thay đổi thời tiết hoặc làm việc căng thẳng. Bệnh có thể kéo dài từ vài tháng đến vài năm.
  • Đầy bụng, chướng hơi, khó tiêu: người bệnh cảm thấy bụng chướng ợ hơi, không muốn ăn, khó tiêu, đắng miệng vào buổi sáng, đau đầu. Đi ngoài ra phân táo, lỏng lẫn lộn.
  • Khi thăm khám thấy: người bệnh có thể trạng bình thường hoặc hơi gầy. Da khô bong vẩy, lưỡi trắng, ở rìa lưỡi, chảy máu lợi. Đau tức vùng thượng vị khi gõ hoặc ấn sâu.
  1. CHUẨN ĐOÁN VIÊM DẠ DÀY MẠN TÍNH

Có các phương pháp chuẩn đoán viêm dạ dày mạn tính như nội soi kết hợp sinh thiết làm mô bệnh học xét nghiệm dịch vị và chụp XQ dạ dày. Tuy nhiên hiện nay chủ yếu dựa vào kết quả nội soi kết hợp sinh thiết.

4.1. Chụp X-quang dạ dày có cản quang

Trên phim chụp dạ dày có uống thuốc Barit thấy hình ảnh các niêm mạc thô không đồng đều bờ cong lớn nham nhở, có hình răng cưa. Tuy nhiên phương pháp này hiện nay ít có giá trị chuẩn đoán viêm dạ dày mạn tính.

4.2. Xét nghiệm dịch vị

Nồng độ acid HCL thường là giảm, nhưng khối lượng dịch tiết bình thường hoặc hơi tăng trong viêm dạ dày nhẹ. Lượng dịch tiết và nồng độ acid HCL giảm nhiều có thể dẫn đến vô toan trong viêm teo dạ dày.

4.3. Nội soi dạ dày

Nội soi phát hiện được những bất thường trên niêm mạc dạ dày để nhận định các thể viêm dạ dày mạn tính. Đây là phương pháp có giá trị tương đối để chuẩn đoán viêm dạ dày mạn tính.

4.4. Mô bệnh học

Trong khi soi có thể sinh thiết kế để làm xét nghiệm mô bệnh học. Đây là tiêu chuẩn vàng trong chuẩn đoán xác định viêm dạ dày.

Các phân loại nội soi viêm dạ dày mạn tính trước hệ thống Sydne

Phân loại của Schindler (1974) gồm 3 loại chính:

  • Viêm nông
  • Viêm teo
  • Viêm phi đại

Phân loại của Moulinier và Truchot: phân loại dựa trên hình ảnh quan sát và nội soi:

  • Thay đổi màu sắc
  • Thay đổi của bề mặt niêm mạc.

Phân loại của Kawai, Roesch và Ottinjahn dựa trên:

  • Các vết xước không hoàn toàn.
  • Các vết xước hoàn toàn: có đám chảy máu và bờ cao xung quanh.

Được chia thành 2 loại là đã phát triển và còn non.

Phân loại viêm dạ dày mạn tính theo hệ thống Sydney

Tại hội nghị tiêu hóa quốc tế lần thứ IX họp tại Sydney (Australia) năm 1990, một nhóm tác giả đã đưa ra phân loại mới về viêm dạ dày. Phân loại mới này được hội nghị thông qua và mang tên “hệ thống Sydney” để phân loại viêm dạ dày. Hệ thống Sydney đã được nhiều nước trên thế giới sử dụng trong phân loại và chẩn đoán viêm dạ dày. Phân loại này gồm 2 phần:

  • Xác định vị trí tổn thương : hang vị, thân vị và toàn bộ dạ dày.
  • Xác định tổn thương nội soi: dựa trên các tổn thương của niêm mạc dạ dày quan sát được, người ta phân ra 7 týp viêm dạ dày:

+ Viêm dạ dày phù nề, sung huyết (ban đỏ hoặc giả mạc): niêm mạc kém nhẵn bóng, nhạt màu, có những vùng sưng nề, sưng huyết.

+ Viêm dạ dày trợt phẳng: niêm mạc có những vết trợt nhỏ, có giả mạc bám ở rìa và có viền đỏ bao quanh hoặc không bao quanh hoặc không bao quanh, hoặc trợt nông chạy dài trên các nếp niêm mạc ở thân vị.

+ Viêm dạ dày trợt lồi: các cục viêm riêng biệt hoặc sát nhau nổi gồ trên niêm mạc, đỉnh hơi lõm và có thể trợt hoặc chấm xuất huyết.

+ Viêm dạ dày xuất huyết: có xuất huyết dưới niêm mạc hoặc những đám xuất huyết, máu tụ đen hoặc hơi rỉ máu.

+ Viêm dạ dày trào ngược dịch mật: niêm mạc xuất hiện đỏ rực, có dịch mật trào qua lỗ môn vị hoặc cặn mật trong dạ dày.

+ Viêm dạ dày phì đại: nếp niêm mạc to, thô, dày, các nếp niêm mạc không xẹp khi bơm căng hơi.

+ Viêm teo niêm mạc dạ dày: niêm mạc mỏng, nhẵn, trắng nhạt, các nếp niêm mạc thưa thớt và nhìn rõ qua các mạch máu.

ĐĂNG KÝ DÙNG THỬ (MIỄN PHÍ) : 098.2288.772

Quý vị có thể đăng ký dùng thử miễn phí online tại đây : DÙNG THỬ MIỄN PHÍ

 

error: Nội dung được bảo vệ !